CHẾ ĐỘ ĂN CHO NGƯỜI TIỂU ĐƯỜNG

che-do-an-nguoi-tieu-duong

Đối với người bị đái tháo đường thì việc xây dựng một chế độ ăn uống hợp lý là vô cùng quan trọng. Nếu ăn uống quá kiêng khem thì sẽ không đủ chất dinh dưỡng so với nhu cầu của cơ thể dẫn đến bị suy nhược. Về cơ bản thì không có bất cứ loại thức ăn nào là người tiểu đường không ăn được nhưng vấn đề là phải xây dựng được một chế độ ăn uống hợp lý để đảm bảo đủ sức khỏe.

Hiện nay có 3 phương pháp chủ yếu để điều trị bệnh đái tháo đường gồm: chế độ ăn uống, luyện tập sức khỏe và uống thuốc. Như vậy, việc xây dựng một chế độ ăn uống phù hợp với người tiểu đường là vô cùng quan trọng và được đạt lên ưu tiên hàng đầu. Một số người bị tiểu đường loại II được ghi nhận là hoàn toàn khỏi bệnh nhờ có chế độ ăn uống hợp lý mà không cần dùng thuốc. Một chế độ ăn uống hợp lý giúp điều chỉnh cân nặng, hạn chế tăng đường máu và giảm nguy cơ tim mạch.

5 khuyến cáo về chế độ ăn uống:

– Xây dựng bữa ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng, lựa chọn thức ăn có chọn lọc nhưng vẫn phải đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể. Đối với nam giới là 35Calo/kg, nữ giới là 30Calo/kg tùy theo cân nặng và đặc thù công việc của từng người như lao động chân tay hay nhân viên văn phòng mà lượng Calo có thể điều chỉnh cho hợp lý.

– Nên duy trì trọng lượng cơ thể ở mức vừa phải. Nếu cơ thể quá béo (BMI>25) thì nên xây dựng chế độ ăn kiêng để giảm cân. Nên ăn nhiều chất xơ, gạo Vibigaba (có nhiều chất xơ và chất GABA hơn so với gạo lức), hạn chế ăn đồ hộp, thức ăn nhanh, thức ăn có nhiều chất béo. Nếu cơ thể quá gầy (BMI < 18.5) thì nên xây dựng chế độ ăn giàu chất đạm, chất béo, ăn nhiều cơm và thức ăn để tăng cân.

– Chia bửa ăn chính một cách hợp lý và nên có các bữa ăn phụ. Tốt nhất là mỗi ngày có 3 bữa ăn chính và 1 đến 3 bữa ăn phụ. Việc chia nhỏ bữa ăn có tác dụng giúp cho người tiểu đường tránh tình trạng bị tăng đường máu sau bữa ăn và bị tụt đường máu khi xa bữa ăn.

– Từ bỏ dần các thói quen xấu như hút thuốc, uống rượu, ăn đồ ngọt có nhiều đường, các món xào nấu, dầu chiên sử dụng nhiều lần…

– Các thành phần trong bữa ăn cần đảm bảo đủ lượng Carbon Hydrat phức hợp và chất xơ, hạn chế mỡ, cholesterol. Carbon Hydrat gồm đường và tinh bột nên rất quan trọng với cơ thể, là thành phần chính để sản xuất năng lượng cho cơ thể. Nhưng cũng cần chú ý rằng Carbon Hydrat cũng là nguyên nhân chính làm tăng nồng độ đường trong máu, tăng huyết áp.

Thực phẩm cho người tiểu đường:

Thuc-pham-cho-nguoi-tieu-duong

– Chất đạm (Protid): là nguồn nguyên liệu chính để xây dựng tế bào và các mô cơ quan. Nên dùng nhiều đạm thực vật như đỗ, đậu nành, hoặc dùng các loại đạm dễ hấp thụ như cá.

– Chất bột (Glucid): là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động. Nên dùng các loại thực phẩm như gạo lức muối mè hoặc gạo lức nẩy mầm. Những loại gạo này tốt cho người tiểu đường do có nhiều chất xơ, ít tinh bột hơn so với gạo thông thường. Hạn chế dùng các loại thực phẩm làm tăng đường trong máu như đường, bánh kẹo…

– Chất béo (mỡ): Nên ăn các loại dầu thực vất như dầu mè, dầu ô lưu, không nên dùng mỡ động vật, phủ tạng.

– Hoa quả: nên dùng các loại hoa quả có hàm lương đường thấp như cam, quýt, bưởi, thanh long…

Nguyễn Trọng Nghĩa

HẠT METHI VÀ CÁCH SỬ DỤNG

Thao-duoc-Methi

TÁC DỤNG CỦA HẠT METHI

Chữa bệnh đái tháo đường: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng dùng hạt Methi với liều lượng hợp lý mỗi ngày sẽ rất tốt cho người bị bệnh tiểu đường. Những người bị bệnh tiểu đường thường là do tuyến Tụy sản xuất không đủ lượng Insulin so với nhu cầu cơ thể hoặc do cơ thể không sử dụng được Insulin. Trong hạt Methi có chứa chất acid amin 4-hydroxyisoleucine, chất này có tác dụng kích thích tuyến Tụy tiết ra chất Insulin giúp cơ thể kiểm soát lượng đường trong máu. Theo tìm hiểu của tôi về một số khách hàng thường xuyên sử dụng hạt Methi của chúng tôi ở Tp Hồ Chí Minh thấy sức khỏe của họ được cải thi rõ rệt.

Hạ thấp Glucose trong máu: Chất xơ tự nhiên trong hạt Methi là chất Galactomannan chiếm 50% trọng lượng hạt khô có tác dụng làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu do vậy làm giảm lượng Glucose trong máu một cách đáng kể. Chất xơ này còn có tác dụng hạn chế lượng calo mang vào cơ thể, giảm thèm ăn, hạn chế ăn quá no hoặc tăng trọng lượng cơ thể.

Giảm Cholesterol: Cholesterol là một trong những thành phần chính cấu tạo nên màng tế bào, sợi thần kinh và nhiều nội tiết tốt trong cơ thể. Nếu lượng Cholesterol và đường trong máu cao sẽ là tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, tiểu đường và nhiều bệnh mạn tính khác. Nồng độ Cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chính dẫn đến bện xơ vữa động mạch và dần dần làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim, do vậy làm tăng nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim.  Hạt Methi làm giảm một cách đáng kể lượng Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) do đó làm giảm đáng kể Cholesterol trong máu. ngoài ra nó còn chứa 25% chất Galactomannan có chức năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và huyết áp cao.

Ngoài ra hạt Methi còn có tác dụng chữa rối loạn tiêu hóa, dạ dày, ngừa và trị sạn thận, có khả năng kháng sinh, diệt ký sinh trùng sốt rét, bảo vệ gan chống lại tác hại của rượu, chống lại bệnh ung thư, chữa cơ thể và hơi thở có mùi hôi…

CÁCH DÙNG HẠT METHI

Đối với người dùng để phòng bệnh:

Dùng khoảng 15-20 hạt mỗi ngày. Có thể rang hạt cho thơm rồi tán nhuyễn rồi pha với nước uống hoặc dùng hạt sống ngâm với 200ml nước khoảng 10 tiếng đồng hồ rồi lấy nước uống.

Đối với người dùng để trị bệnh:

Cách thứ 1: Cho 5-10g (1/2-1 muỗng) thảo dược Methi  vào khoảng 500ml nước đun sôi, có thể dùng từ 2-3 lần đến khi nước nhạt màu

Cách thứ 2: Cho 5-10g thảo dược Methi và 1l nước đun sôi từ 3-5 phút rồi dùng cả ngày

Cách thứ 3: Ngâm trong nước lọc qua đêm, uống nước và ăn cả hạt

Cách thứ 4: Xay thành bột để dùng hoặc làm gia vị cho các món ăn

 Liều dùng:

Tiểu đường: 20-25g mỗi ngày

Cholesterol: 20-25g mỗi ngày

Các trường hợp khác: 15-20g mỗi ngày

Phòng ngừa tiểu đường và cholesterol: 10-15g mỗi ngày

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THẢO DƯỢC METHI

– Khi dùng thảo dược Methi thì mồ hôi của cơ thể và nước tiểu có mùi hôi

– Trẻ em và phụ nữ sắp sinh dùng hạt Methi có thể làm chuẩn đoán sai si ro niệu của trẻ sơ sinh do có chất solotone trong nước tiểu

– Methi có họ với đậu phộng nên người có tiểu sử dị ứng với đậu phộng có thể dị ứng với hạt Methi

Nguyễn Trọng Nghĩa

NHỜ MẦM NÁY CHỐNG MẦM KIA

gaba, gao lut len mam, gao mam vibigaba, gao mam vibigaba mua o dau, gaomam vibi, gạo cho người tiểu đường, gạo lật nảy mầm, gạo lứt chữa bệnh, gạo lứt nảy mầm, Gạo vibigaba, nơi phân phối gạo mKhi bước vào bóng hoàng hôn của cuộc đời, người cao tuổi khó tránh phải đối đầu với hai căn bệnh nghiêm trọng đó là cao huyết áp và tiểu đường. Hai căn bệnh này thường đi đôi để vừa liên tục đục khoét sức đề kháng mong manh trong cơ thể nhạy cảm của người cao tuổi, vừa chực chờ từng cơ hội thuận tiện với nhiều di chứng nghiêm trọng, từ tai biến mạch máu não bước qua thoái hóa võng mạc cho đến nhồi máu cơ tim!

Vấn đề lại không chỉ bấy nhiêu. Cho dù có may mắn được điều trị đúng bài bản với thuốc đặc hiệu, điểm then chốt để ngăn ngừa biến chứng của cao huyết áp và tiểu đường là làm sao để huyết áp và đường huyết ổn định. Theo nhiều công trình nghiên cứu chuyên khoa, chính tình trạng dao động đường huyết và huyết áp là đòn bẩy cho nhiều hậu quả đáng tiếc do thuyến tắt mạch máu như bại liệt, suy thận, mù mắt, hoại tử đầu chi …!

Nỗi khổ vẫn chưa dừng lại ở đó! Người cao tuổi thường phải kiêng khem, nhiều khi thái quá, nếu bệnh không ổn định. Cảm giác thèm ăn nhưng không được ăn no, nhất là ở người da vàng phải có chén cơm mới chắc bụng, cũng theo kết quả nghiên cứu hẳn hoi, là một trong các lý do khiến bệnh nhân mau rơi vào tình trạng trầm uất với triệu chứng báo động là mất ngủ. Do rối loạn nhịp sinh học của giấc ngủ, không lạ gì nếu đường huyết tăng cao buổi sáng cho dù nhịn ăn suốt đêm, nếu huyết áp trồi sụt thất thường nhiều lần trong ngày!

Câu hỏi thực tế cho người bệnh cao huyết áp và tiểu đường là làm sao có được chén cơm để ăn no, ăn ngon miệng mà:
1.  Không bội tăng đường huyết?
2.  Huyết áp không dao động?
3.  Không sợ tăng cân?
4.  Không đầy bụng?
5. Ngủ ngon mà không cần dùng thuốc an thần?
6. Cung ứng cho cơ thể hoạt chất bảo vệ cấu trúc của tế bào thần kinh

Vấn đề tưởng chừng như phức tạp, tưởng chừng như người bệnh phải dựa lưng vào nhiều loại thuốc đặc hiệu để rồi đành chấp nhận trả giá quá đắt vì phản ứng phụ, nhưng ít ai ngờ là giải pháp rất gần trong tầm tay. Đó chính là hoạt chất GABA (gamma aminobutyric acid) trong hạt gạo vừa nẩy mầm với công năng “nhiều trong 1”:

   1.  Ổn định đường huyết thông qua tác dụng kép, vừa tối ưu hóa hoạt tính của nội tiết tố insulin, vừa không tăng đường huyết sau bữa ăn do chỉ số đường huyết trong gạo nẩy mầm thấp hơn các loại gạo thông thường, kể cả gạo lức.

   2.  Điều chỉnh biến dưỡng chất béo nhờ tác dụng ức chế phản ứng tổng hợp chất mỡ xấu như Triglyceride, LDL.

   3.  Ngăn chận khuynh hướng béo phì và lão hóa tế bào vì GABA hưng phấn tiến trình tổng hợp nội tiết tố tăng trưởng (HGH) theo cơ chế sinh học, nghĩa là an toàn khi dùng dài lâu.

   4.  Ngừa táo bón và đầy hơi thường gặp ở người cao tuổi nhờ dồi dào chất xơ.

   5.  Chống loãng xương đồng thời trấn an hệ thần kinh giao cảm do chứa nhiều canxi ở dạng cơ thể dễ dung nạp.

   6.  Thư giãn thần kinh để qua đó tạo giấc ngủ tự nhiên và yên bình nhờ tác dụng ức chế các dẫn truyền thần kinh thái quá đồng thời tái lập nhịp hài hòa trên trục tuyến yên – thần kinh – nội tiết.

Uống thuốc, thậm chí thuốc đắng, để cầm chân căn bệnh tuy đúng là cần thiết nhưng chưa hay. Khéo hơn nhiều là khi chén cơm thường ngày nên thuốc. Hippocrates ắt hẳn có lý do chính đáng khi nhiều lần nhắc nhở “Hãy xem thực phẩm như thuốc, hãy dùng thực phẩm như dùng thuốc”. Nhờ mầm gạo chống mầm bệnh, nấu cơm với gạo nẩy mầm để vận dụng hoạt chất GABA chính là dẫn chứng điển hình.


Bác sĩ Lương Lễ Hoàng, Phòng Điều Trị Nội Khoa, Trung Tâm Oxy Cao Áp, Tp. HCM

Thực đơn khỏe cho người tiểu đường

Bệnh nhân đái tháo đường quá kiêng khem hoặc dùng những thức ăn có hại, đều ảnh hưởng đến sức khỏe. Theo các bác sĩ, một chế độ ăn hợp lý với thịt cá, rau quả, đậu hũ… chế biến phù hợp sẽ đảm bảo dinh dưỡng cho người bệnh.

Nhân ngày hội đái tháo đường, sáng 12/11 các bác sĩ Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM đã hướng dẫn nhiều bệnh nhân cách chọn thức ăn và nấu một số thực đơn điển hình gồm nhiều món như thịt cá, đậu hủ, tôm, các loại rau củ quả… không khác với bữa ăn của người khỏe mạnh.

Bác sĩ Đào Thị Yến Thủy cho biết thực đơn của người mắc tiểu đường vẫn rất đa dạng và bắt mắt, chứ không chỉ gói gọn trong vài món mà người bệnh nghĩ là an toàn. Song điều cần thiết là phải biết chọn thực phẩm đúng cách.

“Thực đơn nên có nhiều loại đa dạng, thay đổi món thường xuyên. Số lượng thực phẩm vừa đủ với nhu cầu cơ thể, sao cho giữ cân nặng hợp lý, giảm cân dần dần ở những người bị béo phì”, bác sĩ Thủy nói.

dsdsd
Các chuyên gia dinh dưỡng hướng dẫn cách chọn và chế biến thức ăn cho bệnh nhân trong ngày hội đái tháo đường. Ảnh: Thiên Chương

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, thức ăn nên chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày, giờ giấc ăn ổn định để tránh tăng cao lượng đường trong máu sau bữa ăn và cũng tránh hạ đường huyết lúc xa bữa ăn. Tốt nhất là 3 bữa chính và một đến 3 bữa phụ trong một ngày.

Bữa ăn nên có nhiều thành phần thực phẩm như bột đường, đạm (thịt, cá, trứng, đậu hũ), béo và chất xơ (rau củ quả, đậu, ngô) giúp đường được hấp thu vào máu từ từ và kéo dài, có lợi cho người bệnh.

Nên ổn định lượng bột đường ở mỗi bữa ăn (lượng cơm, bún, khoai, trái cây) để duy trì tốt đường huyết. Trong bữa ăn nên ăn nhiều chất xơ (rau củ quả) để làm chậm hấp thu đường huyết, quét bớt cholesterol thừa khỏi ống tiêu hóa, chống táo bón và giảm nguy cơ ung thư ruột già, giúp kiểm soát cân nặng.

Tránh chế biến những món ăn hầm nhừ, xay nhuyễn, lăn bột chiên, hoặc phải dùng nhiệt độ quá cao như chiên, nướng. Chế độ ăn cần phù hợp với các loại thuốc đang sử dụng.

Người bệnh đái tháo đường nên ăn nhạt, nêm nếm mắm muối vừa phải. Tổng lượng muối mỗi ngày nên ăn dưới 6 gam (khoảng một muỗng cà phê vun muối trở xuống). Hạn chế ăn các món mặn như mắm, chao, xúc xích, lạp xưởng, giò lụa, đồ hộp, dưa cà, dưa muối, bột ngọt…

Nhóm bột đường: Nên chọn các loại thực phẩm còn nguyên vẹn (ít chà xát kỹ hoặc xay nhuyễn như gạo lức), các loại bột đường hấp thu chậm như cơm, bún, mì, miến, bánh ướt, khoai củ, ngô… trong bữa ăn hàng ngày. Các loại đường hấp thu nhanh như đường cát, bánh, kẹo, trái cây… nên hạn chế sử dụng thường xuyên, trừ trường hợp bị hạ đường huyết.

Nhóm đạm: Nên chọn thịt nạc bỏ da, nên ăn cá và hải sản, đạm thực vật như đậu hũ, đậu que, nấm… Người bị suy thận thì phải ăn ít chất đạm theo yêu cầu của bác sĩ.

Nhóm béo: Nên chọn dầu thực vật như dầu mè, nành, gấc… (trừ dầu dừa, dầu cọ), mỗi tuần nên ăn ít nhất 2 lần mỡ cá. Tránh dùng mỡ động vật (mỡ gà, lợn, bò, cừu), bơ, magarin, da, óc lợn, đồ lòng, phủ tạng (tim, gan, cật)… Người trưởng thành mỗi tuần có thể ăn tối đa 3-4 lòng đỏ trứng, người có rối loạn mỡ máu chỉ nên ăn 2 trứng một tuần. Nên ăn nhiều các loại rau cải, rau đậu để tăng lượng xơ và cung cấp đủ vitamin, khoáng chất. Nên ăn khoảng một chén rau trong mỗi bữa ăn.

Nhóm sữa: Nên chọn loại sữa không đường. Nếu dư cân béo phì nên chọn loại sữa tách béo một phần hoặc không béo.

Nhóm trái cây: Nên chọn những loại trái cây ít ngọt như cam, quýt, bưởi, thanh long, mận, táo…

Các cách làm giảm chất béo và cholesterol trong khẩu phần: Ăn thịt nên bỏ mỡ, bỏ da. Không ăn đồ lòng phủ tạng, lòng đỏ trứng: ăn 2 cái một tuần; uống sữa tách béo; hạn chế chiên xào. Chế biến thức ăn dưới dạng hấp, luộc, kho, nướng. Dùng ít bơ, magarine, dầu; tránh ăn thức ăn mua tại nhà hàng; tăng khẩu phần về trái cây, rau. Hạn chế rượu, chỉ được uống một lon bia mỗi ngày, hay 30 ml rượu vang. Tập thể dục ít nhất 30 phút một ngày, ít nhất 4 lần mỗi tuần. Nên đi bộ 30-60 phút một ngày.

Cũng theo bác sĩ Thủy, khả năng làm tăng đường huyết của từng người sẽ khác nhau với những thực phẩm khác nhau. Vì vậy người bệnh cần phải tư vấn bác sĩ khi thay đổi khẩu phần ăn và nhớ kiểm tra đường huyết sau ăn hai giờ để theo dõi đáp ứng của cơ thể với lượng thức ăn vừa sử dụng.

“Việc thay thế thực phẩm như bữa ăn nào muốn ăn thêm chè, trái cây thì phải giảm bớt lượng cơm, bún. Việc duy trì đường huyết ổn định, mỡ máu tốt, huyết áp tốt sẽ giúp phòng ngừa, trì hoãn hoặc điều trị các biến chứng của bệnh, cải thiện và duy trì sức khỏe người bệnh đạt mức tối ưu”, bác sĩ Thủy nói.

Bệnh đái tháo đường là bệnh lý mãn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng và lối sống. Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo đái tháo đường là một trong những căn bệnh đặc biệt nghiêm trọng đe dọa sức khỏe và sự phát triển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia. Số người mắc bệnh đang gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới và Hiệp hội Đái tháo đường thế giới, năm 1995 có 135 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, chiếm 4% dân số toàn cầu. 5 năm sau có 157 triệu người mắc, chiếm 4,8% dân số toàn cầu. Dự báo đến năm 2025 con số này sẽ là 300 triệu, trong đó khu vực Tây Thái Bình Dương có số người mắc bệnh đông nhất với 44 triệu, Đông Nam Á 35 triệu, tốc độ gia tăng ở các nước đang phát triển là 170%.

 

Thao Nguồn VNEXPRESS.NET

http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/song-khoe/thuc-don-khoe-cho-nguoi-tieu-duong-2277495.html

NHỮNG CÔNG DỤNG BẤT NGỜ CỦA HẠT METHI

GS Hoàng Tích HuyềnGS Hoàng Tích Huyền

Hạt Methi được sử dụng với nhiều công dụng khác nhau như bảo vệ gan và dạ dày, kích thích tiêu hóa, lợi sữa, chống tiểu đường,  chống rối loạn lipit máu, chống oxy hóa…  

Hạt Methi – nhiều công dụng

Methi tên la tinh là Trigonella foecum-graecum, họ đậu (Fabaceae). Có tên khác là Fenugrec (Pháp), Koroha (Nhật), Halba (Malaysia), Fino-greco (Ý), Hồ lô ba (Trung Quốc)…

Bộ phận dùng là hạt và lá. Cây được trồng nhiều, dùng làm thực phẩm, làm thuốc từ hơn 4000 năm qua, là cây thuộc vùng ôn đới Châu Âu và Bắc Phi, trồng từ Địa Trung Hải tới Trung Quốc.

Người La Mã xưa, dùng Methi để giúp dễ đẻ, người Ấn Độ dùng tăng tiết sữa, người Trung Quốc dùng hạt Methi làm thuốc bổ, chống yếu chân, phù chân, dễ tiêu hoá.

Từ xa xưa, người Ai Cập đã dùng hạt Methi làm gia vị, ướp xác, xông hương, lá và ngọn Methi làm rau ăn, cây làm thức ăn cho súc vật. Y học cổ truyền công nhận hạt Methi có vị đắng (vì chứa 1% alcaloid) ôn thận, tán hàn, chỉ thống, dùng trị thận suy, đau dạ dày, đau ruột, chân sưng đi lại khó khăn, kích thích tính dục, tăng tuyến sữa, da dẻ mịn màng.

Ngày nay hạt Methi vẫn được dùng phổ biến để điều trị đau dạ dày, đau bụng, thấp khớp, nhuận tràng, lợi tiểu, điều kinh, tăng cường khả năng tính dục… Phụ nữ dùng hạt Methi rang lên để giữ thân hình thon đẹp. Người Ba Tư và Ả Rập thường dùng hạt Methi để làm tăng khối nạc cho phụ nữ và để tăng cường khả năng tính dục cho nam giới.

Nhiều nước còn dùng hạt Methi giúp nhuận tràng, lợi tiểu, chống phù thũng, điều kinh, làm thuốc mỡ đắp chữa bỏng giảm đau và thường dùng như thực phẩm, làm gia vị trong khẩu phần ăn hằng ngày.

thao duoc methi an do

Hỗ trợ người bệnh tiểu đường

Hạt Methi được dùng phổ biến nhất để chống tiểu đường, nhất là ở Mỹ, Ấn Độ, sau đến các nước vùng Địa Trung Hải (Tây Ban Nha, Pháp, Monaco, Ý, Malta, Albani, Slovenia, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Israel, Libya, Algeria, Maroc, Tunisia…).

Để cắt nghĩa tác dụng nổi trội của hạt Methi trong chống tiểu đường, người ta đã thấy trong hạt chứa một acid amin là 4-hydroxy-isoleucin làm tăng được insulin ở tế bào beta của đảo tuỵ, nên Methi làm giảm nồng độ glucose – máu, làm tăng số lượng thụ thể với insulin; Methi ức chế hoạt tính của alpha – amylase và sucrase (là các enzym ở ruột xúc tác cho chuyển hoá hydrat carbon) và Methi còn chứa trigonelline có lợi ích chống glucose – niệu.

Ngoài ra, vai trò của chất xơ trong hạt Methi cũng rất quan trọng. Chất xơ tự nhiên trong hạt Methi là galactomannan chiếm 50% trọng lượng hạt khô (gồm 30% xơ hoà tan và 20% xơ không tan) sẽ làm chậm hấp thu glucose sau bữa ăn của người bệnh tiểu đường. Chất xơ của hạt Methi rất ổn định khi chế biến, giúp cải thiện chức năng tiêu hoá, không gây đầy hơi, giúp tăng khối lượng phân, giảm nguy cơ táo bón, đại tiện dễ nhờ phân mềm, giảm nguy cơ túi thừa đại tràng, giảm trĩ và nứt hậu môn.

Chất xơ này còn cải thiện sức khoẻ cho người tiểu đường nhờ hạn chế được số lượng calo mang vào, giảm thèm ăn, kiểm soát ăn quá no, hạn chế tăng thể trọng. Galactomannan (chất xơ của hạt Methi) cũng giúp làm giảm cholesterol – máu nên có ích trong phòng và chữa vữa xơ động mạch và các bệnh tim mạch.

Viện dinh dưỡng quốc gia Ấn Độ đã cho thấy lợi ích của hạt Methi chống tiểu đường cả tuýp I và tuýp II, tác dụng như sau: Giảm glucose – máu lúc đói, cải thiện dung nạp glucose, giảm glucose niệu, giảm tỷ lệ % HbA1c, giảm nồng độ glucose máu sau bữa ăn, cải thiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh tiểu đường (đái nhiều, khát nhiều, ăn nhiều, suy yếu, sụt cân).

Tổ chức Y tế thế giới cũng đã công nhận dùng hạt Methi hỗ trợ điều trị cho người bệnh tiểu đường tuýp I và II. Người bệnh uống hạt Methi đều đặn có thể giảm liều dùng của các thuốc chống tiểu đường như  glibenclamid/glipizid/metformin khoảng 20% khi phối hợp.

Hạt Methi còn chống rối loạn lipid máu: ăn hạt này thường xuyên và kéo dài, người bệnh sẽ thấy giảm các nồng độ cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL – cholesterol trong máu, có thể do thành phần sapogenin trong hạt làm tăng tiết cholesterol ở mật, nên làm hạ cholesterol trong huyết thanh và đào thải cùng acid mật theo phân.

Hạt Methi làm giảm sự peroxy hoá lipid, kìm hãm sự hao hụt các phân tử chống oxy hoá (như superoxyd – dismutase, glutathion – peroxydase). Như vậy Methi là chất chống oxy hoá, mang lợi ích nhiều mặt cho người dùng (như chống tiểu đường, lão hoá, các bệnh chuyển hoá, bệnh tim mạch…). Hạt Methi có lợi cho chức phận tiêu hoá nhờ làm tăng tiết acid mật (35%), tăng tốc độ dòng chảy của mật (44%), tăng hoạt tính lipase ở tuỵ tạng (43%), tăng hoạt tính chymotrypsin, giảm amylase tuỵ tạng, giảm trypsin tuỵ.

Độ an toàn của hạt Methi
Sử dụng hạt Methi rất an toàn nếu tuân theo cách dùng và liều lượng.

Rất ít khi gặp dị ứng, tiêu chảy, đầy hơi, chóng mặt, giảm thể trọng.

Dùng thận trọng khi có tạng chảy máu, khi dùng chung thuốc làm hạ kali – máu (như thuốc lợi niệu, nhuận tràng…)
Không dùng khi đang mang thai (vì hạt Methi làm tăng co bóp tử cung ở súc vật thí nghiệm).
Uống 25gam/ngày, dùng trong 24 tuần, không thấy có dấu hiệu độc với gan, thận, huyết học.

Bài sưu tầm trên Vietnamnet.vn

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ HẠT METHI

Hat methi

Ngoài việc có tác dụng tốt với người bị bệnh tiểu đường, hạt Methi còn có tác dụng giảm cholesterol, tăng lượng sữa cho bà mẹ mang thai, tăng khả năng kháng sinh và ngăn ngừa sỏi thận.

Hạt Methi là một trong những dược thảo được WHO và nhiều quốc gia công nhận có hoạt tính giúp hạ đường trong máu. Trong thành phần của hạt Methi có chứa một acid amin được gọi là 4-hydroxyisoleucine. Acid amin này có tác dụng kích thích quá trình tự tiết insulin của tuyến tụy. Insulin như chúng ta biết, đó là một hormone do các “tế bào đảo tụy” của tuyến tụy tiết ra với tác dụng chuyển hóa carbon hydrate.

Bệnh tiểu đường loại một là do thiếu insulin (tụy sản xuất không đủ insulin (thiếu insulin tương đối hay tuyệt đối so với nhu cầu của cơ thể) hoặc do tế bào không sử dụng được insulin, làm tăng đường huyết và tiểu đường). Vì có tác dụng kích thích quá trình tự tiết insulin của tuyến tụy nên hạt Methi có tác dụng chữa bệnh tiểu đường tốt.

Ngoài ra, loại hạt này còn giúp hạ thấp mức đường trong máu thông qua một số cơ chế. Theo đó, đầu tiên nó có thể làm chậm quá trình hấp thụ của carbon. Thứ hai nó có thể ảnh hưởng làm ức chế quá trình vận chuyển glucose. Tác động cuối cùng và quan trọng là nó giúp trì hoãn quá trình trống rỗng dạ dày.

Nhiều nghiên cứu cho thấy ngoài tác dụng hạ đường trong máu, hạt Methi còn hỗ trợ làm giảm được một số triệu chứng của người tiểu đường như khát nước, đi tiểu nhiều lần, yếu mệt và sụt cân.

Bên cạnh đó hạt Methi còn được ví như “người bảo vệ” trung thành của những người bị cholesterol nhờ trong hạt còn chứa nhiều vitamin và khoáng tố vi lượng. Điều này có thể góp phần tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, giúp bổ sung dưỡng chất, hỗ trợ chống oxy hóa tế bào.

Ngoài ra, galactomannan trong hạt còn là chất xơ hòa tan tự nhiên giúp hỗ trợ ngăn ngừa nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tim mạch, huyết áp, cải thiện hệ tuần hoàn. Hiện nay, hạt Methi được sử dụng nhiều như một loại thực phẩm hoặc gia vị mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe con người.

Bên cạnh tác dụng trị bệnh tiểu đường, giảm cholesterol, hạt Methi có tác dụng hữu hiệu với các bà mẹ đang cho con bú. Nó có chứa các tiền chất hormone thúc đẩy quá trình cung cấp sữa vì tuyến vú là một tuyến mồ hôi đã bị sửa đổi. Hạt Methi tác động bằng cách kích thích quá trình tiết mồ hôi.

Với hầu hết các bà mẹ đang cho con bú, việc sử dụng hạt Methi giúp tăng sản lượng sữa trong ít nhất 24 giờ sau khi dùng. Một lợi ích khác là một khi đã đạt được mức cung cấp sữa đủ, các bà mẹ có thể ngưng dùng và cơ thể khi đó sẽ duy trì mức độ cung cấp sữa chính xác vừa đủ.

Ngoài ra, loại hạt này còn tăng khả năng kháng sinh, là hoạt tính diệt ký sinh trùng sốt rét, tăng kích cỡ ngực cho phụ nữ, ngăn ngừa và điều trị sỏi thận, ngăn ngừa ung thư vú.

Với nhiều tác dụng như vậy nhưng những sản phẩm được làm từ hạt Methi lại có giá bán phải chăng, hợp túi tiền của nhiều người.

TÁC DỤNG CỦA HẠT METHI ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ

IMG_2018Methi ẤN Độ

Hiện nay nhiều người mắc bệnh tiểu đường tại Việt Nam đã và đang sử dụng hạt Methi với hy vọng có thể chế ngự được những tác hại của bệnh tiểu đường gây ra.

Tuy nhiên hạt Methi không có xuất xứ từ trong nước mà chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngoài.Vậy hạt Methi là gì? Nó có tác dụng như thế nào mà mọi người đua nhau dùng như vậy?

Hạt Methi hay được gọi là hạt fenugreek, hạt cỏ cà ri hoặc khổ đậu, tên khoa học trigonella foenum-graecum L., thuộc họ Đậu – Fabacaeae. Còn Methi là tên gọi theo tiếng Phạn (Methika), xuất phát từ Ấn Độ. Hạt có màu vàng hoặc hổ phách, có vị cay đắng gần như nghệ, mùi thơm đặc biệt, được sử dụng làm gia vị trong các món ăn truyền thống Ấn Độ.

Cây thuộc loại bán khô hạn, hiện diện ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Bangladesh, Argentina, Hy Lạp, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc… Trong đó, Ấn Độ là quốc gia cung cấp phần lớn thảo dược này.

Kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Manoj Bhat và các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu Khoa học tế bào quốc gia Ấn Độ về “Hiệu quả hạ đường huyết của hạt Methi” được công bố trên tạp chí “Phytotherapy Research” và “The British Journal of Pharmacology đã chỉ ra rằng việc sử dụng Methi trong khẩu phần ăn của bệnh nhân tiểu đường type 1 sẽ giúp giảm mức đường trong nước tiểu xuống 54%/24h bằng cách cho thêm một muỗng hạt Methi vào các bữa ăn hằng ngày của họ. Nhờ sự hiện diện của chất xơ tự nhiên galactomannan, hạt Methi làm giảm tốc độ hấp thụ đường vào máu. Các axít amin (4-hydroxyisoleucine) trong hạt Methi tác động việc sản xuất insulin do đó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.

Và như vậy, qua nghiên cứu trên, có thể nói rằng, hạt Methi rất hữu ích cho bệnh nhân bệnh tiểu đường.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khoa học khác ghi nhận, trong hạt Methi chứa 45- 60% carbohydrates; protein 26,2%, lipid không no 5,8%; chất xơ 3%; 44,2% là đường; khoáng tố 3% gồm sắt, calci, phosphore, kẽm… Khi thử trên thú vật và cả khi thử nghiệm lâm sàng nơi người.

Nhiều nghiên cứu cho thấy ngoài tác dụng hạ đường trong máu, hạt Methi còn hỗ trợ làm giảm được một số triệu chứng của người tiểu đường như khát nước, đi tiểu nhiều lần, yếu mệt và sụt cân.

Bên cạnh đó hạt Methi còn được ví như “người bảo vệ” trung thành của những người bị cholesterol nhờ trong hạt methi còn chứa nhiều vitamin và khoáng tố vi lượng có thể góp phần tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, giúp bổ sung dưỡng chất, hỗ trợ chống oxy hóa tế bào.

Ngoài ra, galactomannan trong hạt Methi còn là chất xơ hòa tan tự nhiên giúp hỗ trợ ngăn ngừa nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tim mạch, huyết áp, cải thiện hệ tuần hoàn.

Hiện nay trên thế giới, hạt Methi được sử dụng rất nhiều như một loại thực phẩm hoặc gia vị mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe cho con người. Có lẽ nhờ những thông tin đã nêu ở trên mà nhiều người chọn hạt Methi như một giải pháp nâng cao sức khoẻ.

Trần Văn Kiệm